chuong mot gioi thieu so luoc ve chung khoan

Đúng là thế giới đã thu nhỏ lại thành một cái làng. Nhấp chuột là tin tức bay vèo đến quê ta với vận tốc ánh sáng. Tiền cũng bay vèo vèo ở thị trường chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện qua bảng điện tử màu xanh (tăng giá) đỏ (giảm giá) và vàng (đứng giá). Vào ngày có phiên giao dịch từ 7g30 đến 10g30 những nhà đầu tư lớn nhỏ nườm nượp kéo vào các sàn giao dịch chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh. Ai cũng ôm những giấc mơ. Họ đốt đuốc giữa ban ngày để tìm câu trả lời cho ba câu hỏi cơ bản của thị trường chứng khoán: - Mua cổ phiếu nào đây? - Khi nào mua? - Khi nào bán? Nghe thì đơn giản nhưng tính toán hay quyết định cho ba chuyện này thì không dễ đâu anh Hai à. Xin nói sơ qua vài khái niệm cơ bản. Mọi công ty cổ phần tuân thủ và có đủ điều kiện theo Luật chứng khoán (có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 ở nước ta) đều có thể lên "sàn" giao dịch. Thường họ phải qua công ty tư vấn chuyên nghiệp để minh bạch hoá tình hình tài chính đã kiểm toán đúng luật có bản cáo bạch cung cấp cho nhà đầu tư và thành công trong đợt bán cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng (IPO - Initial public offerings). Thí dụ vốn điều lệ của công ty A là 100 tỉ đồng nếu quy ra 10 triệu cổ phiếu mang mệnh giá 10.000 đồng thì khi khéo léo lên sàn có thể bán với giá gấp 20 lần là 200.000 đồng/một cổ phiếu. Tiền lời được chia từ công ty phát hành cổ phiếu là cổ tức (dividend). Nhưng các tay kế toán cừ khôi đều có thể phù phép nâng cổ tức lên cao cho hấp dẫn. Mức cổ tức hiện nay thường ở khoảng 10-12%/1năm cao hơn lãi suất tiết kiệm của ngân hàng một chút. Nếu anh Hai có vai vế trong công ty quốc doanh và khi cổ phần hoá với hình thức cổ phần khép kín nhờ định giá tài sản công ty là con thỏ thay vì con voi là trọng lượng thực và được chia cổ phiếu ưu đãi thì chỉ một thời gian sau nếu ăn nên làm ra và có thời rồi con thỏ trở thành con voi khổng lồ cổ phiếu trị giá 500 tỷ ngon ơ. Nhưng loại tài sản này thường có những ràng buộc gắt gao về mặt quản lý mặt dư nợ các khoản vay lợi nhuận riêng lợi nhuận chung và trách nhiệm. IPO còn có một phương thức khác là đưa cổ phiếu ra thị trường thứ cấp bằng hình thức đấu giá (như Vinamilk đã làm ở Hội trường Thống Nhất ngày 17/02/2005 với giá khởi điểm 220.000đ và đạt giá trúng thầu bình quân 313.000đ/1 cổ phiếu). Nhà đầu tư nước ngoài cũng được tham gia trong tỷ lệ sở hữu được nhà nước quy định (gọi là room) thường tối đa 49% và hiện nay đang ở khoảng 30% trên thực tế. Theo quy định hiện hành giá cổ phiếu ở thị trường chứng khoán được tăng tối đa + 5% trong mỗi kỳ giao dịch được gọi là giá trần. Nếu giảm tối đa -5% thì gọi là giá sàn. Với giá tham chiếu là giá kết thúc phiên giao dịch hôm trước để làm giá mở cửa cho phiên giao dịch hôm sau. Khung dao động giữa giá trần và giá sàn gọi là biên độ. Hiện thời biên độ ở thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh là +/-5% ở Hà Nội là +/-10% so với giá tham chiếu. Giá mua/bán cổ phiếu trong một phiên giao dịch nào đó thường không được ra ngoài biên độ đã quy định trừ một vài trường hợp ngoại lệ. Anh Hai thường nghe VN-Index (sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh) và HaSTC-Index (sàn Hà Nội). Đó là chỉ số thể hiện sự chênh lệch về giá của tổng số các cổ phiếu tăng giá với tổng số cổ phiếu giảm giá trên toàn sàn. Hiện nay chẳng hạn nếu trong số 107 đơn vị lên sàn thành phố Hồ Chí Minh có đa số là 65 loại phiếu chẳng hạn được mua bán với giá cao hơn hôm trước thì kết thúc phiên giao dịch chỉ số đã tăng lên. Anh Hai có thể tham khảo một số trang web tiếng Việt để nắm thông tin giá cả chỉ số nóng hổi nhất ở www.ssc.gov.vn www.vse.org.vn www.hastc.org.vn www.vietstock.com.vn www.ckvn.com (dĩ nhiên là Ba Gạo chẳng có trách nhiệm về những gợi ý của mấy trang web này nghe anh Hai). Ở đó anh Hai có thể thấy các biểu đồ (chart) là hàng thứ biểu mà dân "chơi" chứng khoán nhìn vào có thể mừng vui hay lo lắng. Chính đó là nơi gặp gỡ với cả giá thật hoặc giá "còn ảo" trên thị trường tiền tệ thông qua sàn chứng khoán. Tỷ lệ đầu tư trên lãi suất (P/E-Price to Earning ratio) trong khu vực Đông Nam Á thường chỉ ở khoảng 8 - 15 nhưng ở nước ta hiện nay đã lên tới mức bình quân là 43 đơn lẻ có trường hợp lên tới 328 (cổ phiếu PVD) do chứng khoán Việt Nam rơi vào tình trạng quá nóng và vượt giá trị thật bởi cầu đang lớn hơn cung. Việc này đã tạo ra một "hàm ếch" mà thị trường sẽ tự điều chỉnh bất cứ lúc nào. Và lúc ấy kẻ thiệt thòi thường là nhà đầu tư cá nhân. Việc đánh giá P/E vừa là khoa học vừa là ma thuật và nhiều người đã chơi chứng khoán theo cảm tính hoặc dựa một phần vào logic tuỳ hứng thường đa dạng hoá danh mục đầu tư (port-folio) theo kiểu "không bỏ hết trứng vào một rổ". Có thể nói: Chứng khoán là tiền trồi sụt theo tâm lý người mua kẻ bán. Khuynh hướng chứng khoán là "tiền" cộng với "tâm lý". Anh Hai lên đây xem cảnh bùng nổ cơn sốt săn lùng cổ phiếu. Họ hí hửng đặt cọc. Họ chơi chứng khoán như đánh bạc và có lúc bỏ tiền cọc bỏ của chạy lấy người khi bị "hố" hay bị "tổ trác". Số lượng tài khoản các nhà đầu tư chứng khoán cũng là nhà đầu cơ theo nghĩa tương đối tốt đã vượt quá 300.000. Hàng trăm "cò" chứng khoán tung đủ thứ tin làm như họ là tiên tri là chủ tin tức nội gián ca ngợi hoặc thêu dệt những kế hoạch kinh doanh mà đến vị giám đốc của chính công ty ấy cũng chưa hề biết đến. Thiên hạ đổ xô đi học các khoá thị trường chứng khoán tựa như phong trào nuôi chim cút hay ào ào gửi tiền cho nước hoa Thanh Hương ngày trước. Đã có gần 60 công ty chứng khoán là thành viên của 2 sàn giao dịch. JP Morgan Citgroup Global Markets và Goldman Sachs đã nhảy vào. Không biết ông trùm khuynh đảo tài chính quốc tế George Soros sẽ ra đòn lúc nào đây? Anh Hai thân mến Hãy ngược dòng lịch sử một chút xíu anh Hai sẽ rõ nguồn gốc thị trường chứng khoán: vào thế kỷ 11 ông Braudel ở Cairo (Ai Cập) đã tổ chức cho người Do Thái và người theo đạo Hồi mua bán vàng bạc đá quý bằng tín dụng hùn hạp và có các phương thức thanh toán mới mẻ hơn "tiền trao cháo múc". Nước Pháp ở thế kỷ 12 đã tận dụng sự trợ giúp của nhà môi giới (broker) và ngân hàng để bán nông sản. Qua thế kỷ 13 ông Van der Beurs quan sát cảnh giao hàng cồng kềnh cực khổ đã đề xuất hình thức ghi tín phiếu. Quảng trường ở khu chợ Bruegge (Bỉ) đã trở thành thị trường chứng khoán lộ thiên. Họ dựa vào tên ông và chữ bursa trong tiếng La Tinh có nghĩa là túi (đựng cổ phiếu) để đặt tên cho thị trường chứng khoán đầu tiên mở cửa vào năm 1309 tại nhà ông Beurs gọi là boerse (tiếng Đức) và bourse (tiếng Pháp). Thị trường chứng khoán khó duy trì hoạt động lâu dài ở một cái làng Bruegge lớn hơn Chắc Cà Đao hay Mù Căng Chải chút xíu. Nó đã phát triển từ Antwerpen Amsterdam Paris London Frankfurt am Main Warsaw rồi trở thành khổng lồ ở New York Tokyo Hongkong ... và đến đầu thế kỷ 21 như một tất yếu đã đến Việt Nam. Trong một tương lai gần NYSE của New York và thị trường chứng khoán Tokyo sẽ liên minh để làm trùm chứng khoán thế giới. Người Pháp rất có lý khi gọi chứng khoán là giá trị động sản (valeurs mobilieres) đối ngược với bất động sản là các loại đất ruộng ao... Chứng khoán tạo nên vốn lưu động vốn đầu tư giá rẻ cho doanh nghiệp niêm yết vốn hóa thị trường tăng minh bạch hoá giảm phí chuyển nhượng vốn và cố gắng bảo vệ nhà đầu tư (vừa là nhà đầu tư ngắn hạn hoặc lâu dài)... ở mức có thể. Thật ra thị trường chứng khoán ở mức phát triển cao thì không chỉ dừng lại ở cổ phiếu và trái phiếu như ở nước ta trong giai đoạn hiện nay mà còn bao gồm ngoại tệ hàng hoá (commodity) nguyên liệu dịch vụ tài chính như mua bán kỳ hạn (futures/forwards) nhờ tham gia bán trước (short) phòng tránh rủi ro (hedge) chứng từ có giá trị trao đổi (swaps) ... và chủ yếu ở thị trường chính thức tại sàn giao dịch (trading floor). Sàn phi tập trung (OTC - Over the counter off exchange) thì thông qua máy vi tính nối mạng giữa các thành viên của thị trường chứng khoán và chủ yếu mua bán cổ phiếu các công ty vừa và nhỏ. Vì thế giá cà phê tiêu kim loại màu ... sẽ dựa vào thị trường chứng khoán London còn thịt heo bông vải ... thì Chicago chẳng hạn. Kostolany đã nói rất dễ hiểu: "Anh có nhiều tiền có thể đầu cơ. Có ít tiền anh đừng nên đầu cơ gì cả. Và nếu anh không có tiền thì phải đầu cơ thôi"; "ai muốn ăn ngon: mua cổ phiếu; ai muốn ngủ ngon: mua trái phiếu" và "tiền của anh chẳng bao giờ mất nó chỉ chạy qua túi những kẻ khác" (*). Tuy nhiên anh Hai à đừng có chơi chứng khoán xả láng hay vay mượn để chơi. Chứng khoán được cầm cố đang đạt 3% tổng dự nợ của các ngân hàng Việt Nam và như thế là cao lắm rồi. Chơi thì chơi nhưng nhà đầu tư nhỏ thì rất cần mở hai mắt thật to để tránh một số nguy cơ tiềm ẩn như sau: Cân nhắc kỹ trước khi chơi vì đã khớp lệnh và đã mua rồi thì phải thường xuyên theo dõi báo chí và Internet để canh chừng xem lúc nào bán được trên thị trường chính thức. Nên tránh thị trường OTC hay thị trường ngoài luồng (kiểu sanotc hay chungkhoanotc) vì thiếu hành lang pháp lý đầy đủ cho những cách chơi này. Đề phòng thủ thuật tung hoả mù bằng đặt lệnh động tác giả của nhóm đầu cơ đại gia lũng đoạn tài chính có đủ ma thuật để làm mờ mắt nhà đầu tư cá nhân thường nghiêng về cảm tính và chạy theo tâm lý đám đông. kỹ thuật mua bán kiểu "rải đinh" "đánh trống bỏ dùi" tung tin đồn thất thiệt tin nội gián dỏm... - Có cổ phiếu bị kích giá lên khá cao trước khi niêm yết song đến thời kỳ sao dịch chính thức sẽ bị điều chỉnh giá xuống làm không ít nhà đầu tư mất khá bộn tiền. - Cẩn trọng với các kênh đầu tư thời thượng kể cả việc lăng xê các cổ phiếu hàng hiệu nổi tiếng (blue chip) theo dõi sát sao khi có tăng trưởng nóng hoặc biến động nhảy cảm hoặc khi nhà nước áp dụng các biện pháp thanh tra tăng cường giám sát. - Cẩn trọng khi thấy các chủ doanh nghiệp của blue chip bán ra. Có thể đã hay sẽ có vấn đề đấy! - Nhà đầu tư bi quan bán tống bán tháo cổ phiếu làm giá tụt xuống nhanh quá mức và do đó không phản ánh đúng thực trạng của các công ty niêm yết. Nếu tình trạng tụt giá xảy ra đồng loạt ở nhiều blue chip chẳng hạn thị trường chứng khoán có thể sụp đổ (crash). Dĩ nhiên lúc phất cao (boom) hay rơi đài (baisse) đều có ẩn chứa cơ hội. - Không chơi chứng khoán theo kiểu đánh bạc vì thời cơ không phải lúc nào cũng nằm ở dạng đầu tư ngắn hạn. - Việc chọn công ty quản lý chứng khoán rất quan trọng nhất là chất lượng của các phân tích kỹ thuật: tính toán lãi suất chỉ số tài chính các hệ số về cơ cấu vốn các hệ số về khả năng sinh lời. - Thủ thuật đấu giá ngày càng tinh vi thậm chí nham hiểm. - Thông tin đúng nửa chừng. Thế là tin sai hoàn toàn chứ thiếu một nửa sự thật là một trăm phần giả dối. Đánh giá sai một tin đúng hay đánh giá đúng một tin sai đều dẫn đến sai lầm. - Hệ số P/E hiện tại có thể mê hoặc hay đánh lừa nhà đầu tư. Điều quan trọng thật sự là hệ số P/E của thì tương lai. Logic của thị trường chứng khoán là logic tầm nhìn. - Cẩn trọng trước kỹ xảo bán cổ phiếu với giá sàn để tạo tâm lý hoảng loạn hoặc mua giá trần tạo tâm lý hưng phấn. Nhiều tay mơ sẽ vào rọ và ngày thua liểng xiểng không xa. - Mua cổ phiếu phải rõ ai sẽ nhận cổ tức trong năm tài chính lúc mua. - Xin lưu ý việc sắp đánh thuế thu nhập từ chứng khoán. Nếu lọt vào bảng công bố 100 người giàu nhất Việt Nam thì phúc và hoạ chỉ cách nhau một găng tay. - Cảnh giác chẳng bao giờ thừa đối với các doanh nghiệp phát triển kiểu bong bóng thùng rỗng kêu to. - Giới đầu tư tài chính quốc tế thông qua đầu tư gián tiếp để "đánh nhanh thắng nhanh rút gọn" và khi thị trường nổ tung thì họ đã thu lợi lớn còn những ai gánh hậu quả thì "cuốn theo chiều gió". Trên đây là mấy nét chấm phá về thị trường chứng khoán ở nước ta là ABC của mảng kinh doanh đặc biệt này là nhập môn của nhập môn mang màu xám của lý trí. Nhưng thị trường chứng khoán của nền kinh tế mới nổi (energingeconomy) còn chứa nhiều đặc trưng chưa hiểu hết được. Thắng thua nóng lạnh của chứng khoán còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố có thể gộp chung và gọi là thời tiết chứng khoán. Tinh thần mạo hiểm của nhà đầu tư cũng là yếu tố thành công hoặc nguyên nhân thất bại. Chẳng mấy ai có điều kiện và linh cảm minh triết như Bechtolsheim khi nghe hai nhà sáng lập trẻ tuổi của Google trình bày ý tưởng kinh doanh xong ký tặng ngay một tấm séc 100.000 đô la Mỹ để mua máy tính rồi phóng xe bỏ đi. Sau này khi Google phất lên hiệu quả đầu tư ấy đã củng cố danh hiệu "thiên thần thung lũng Silicon" của ông. Vì ông linh cảm và nhận định như kiểu chơi chứng khoán: " Tôi nghĩ Google sẽ được nhiều người ưa dùng và Google sẽ hái ra tiền". Sequoia Capital bỏ ra 2 triệu đôla Mỹ để làm IPO cho Yahoo và thu lãi 32 triệu. Ấy là chuyện của nhà đầu tư mạo hiểm (venture capital) rất gần với chứng khoán. Trên thị trường chứng khoán cảnh "mèo mù vớ cá rán" thường hay xảy ra. Không nhất thiết phải đọc bài này mới khoái hay sợ chứng khoán. Có thể giấc mơ của người này khi biến thành hiện thực là ác mộng của người khác. Có thể suy tính rất kỹ rất khoa học mà vẫn chuốc thất bại đắng cay như lần rơi đài của blue chip ngành công nghệ thông tin ở miền Tây nước Mỹ làm bốc hơi 90% trị giá chứng khoán đầu tư sự chao đảo và sập sàn ở Đông Nam Á vào năm 1997 mới đây. Xa hơn nữa là thảm hoạ sụp đổ sàn chứng khoán New York dẫn đến đại suy thoái toàn cầu vào thứ hai đen tối 28/10/1929. Thị trường chứng khoán là một thị trường đầy giấc mơ và ác mộng? (SƯA TẦM Ở WEBSITE SANOTC.COM và diễn đàn ) Tìm hiểu thuật ngữ chứng khoán (TTGDCK HN) Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm cổ phiếu trái phiếu chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác. Vốn cổ phần của công ty cổ phần được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu cổ phần của người nắm giữ cổ phiếu trong công ty. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông của công ty cổ phần. Ngày nay trên Sở giao dịch chứng khoán cổ phiếu còn có hình thức ghi trong máy tính điện tử gọi là hình thức phi vật chất rất thuận tiện cho việc giao dịch cổ phiếu một cách nhanh chính xác an toàn tránh được việc nhàm lẫn trong mua bán và làm giả cổ phiếu. Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi: Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được quyền biểu quyết đổi với các quyết định lớn của công ty tại Đại hội Cổ đông của công ty cổ phần và được hưởng cổ tức (cổ tức này không cố định có thể có và có thể không có). Người sở hữu cổ phiếu ưu đãi được hưởng cổ tức cố định hàng năm mặc dù công ty có lãi hay không có lãi và có thể được hưởng một số quyền biểu quyết nhưng rất hạn chế. Như vậy cổ phiếu ưu đãi gần giống với trái phiếu. Cổ tức là khoản tiền hàng năm công ty cổ phần phân phối cho cổ đông như là một khoản lãi. Việc chi trả cổ tức do Hội đồng Quản trị quyết định. Nếu trong năm công ty có lợi nhuận thì cổ tức được trích ra từ khoản lợi nhuận đó. Trong một số trường hợp công ty không có lợi nhuận trong năm nhưng công ty vẫn chi trả cổ tức từ khoản vay ngân hàng. Trái phiếu là chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu. Trái phiếu bao gồm trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ. Trái phiếu có thể có bảo đảm hoặc không có bảo đảm. Trái phiếu có bảo đảm có thể được bảo đảm bằng phương thức sau: Bộ Tài chính hoặc tổ chức tài chính bảo lãnh thanh toán; Bảo đảm bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc một tổ chức thứ ba. Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có kèm theo quyền chuyển đổi quy định rằng đến một thời điểm nào đó (1 2 5 năm sau khi phát hành) thì người sở hữu trái phiếu có quyền chuyển đổi trái phiếu để lấy cổ phiếu của công ty phát hành trái phiếu. Ví dụ: tháng 10 năm 1998 công ty A phát hành trái phiếu C kèm theo quyền chuyển đổi 1 trái phiếu C thành 1 cổ phiếu của công ty A vào tháng 10 năm 2002. Nếu vào tháng 10 năm 2002 giá 1 cổ phiếu là 102.000 đồng và giá trái phiếu C là 90.000 đồng thì người nắm giữ trái phiếu sẽ chuyển đổi trái phiếu đang nắm giữ sang cổ phiếu. Ưu điểm của việc phát hành trái phiếu chuyển đổi là nó hấp dẫn nhà đầu tư hơn so với trái phiếu thông thường. Trái phiếu Chính phủ do Chính phủ phát hành. Trái phiếu Chính phủ của các nước thường do Ngân hàng Trung ương tổ chức đấu thầu bán buôn các tổ chức tài chính đứng ra thầu mua và là người tạo dựng thị trường trái phiếu. Trái phiếu công trình là một loại trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu chính quyền địa phương được Chính phủ cho phép được phát hành để phục vụ cho việc xây dựng một công trình theo quy định của Chính phủ hoặc địa phương Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán TTGDCKHN Thị truờng chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc trung gian nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai. Nguyên tắc trung gian: Mọi hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trên thị truờng chứng khoán đều đuợc thực hiện thông qua các trung gian hay còn gọi là các nhà môi giới. Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và huởng hoa hồng. Ngoài ra nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác nhu cung cấp thông tin và tu vấn cho khách hàng trong việc đầu tư... Theo nguyên tắc trung gian các nhà đầu tu không thể trực tiếp thoả thuận với nhau để mua bán chứng khoán. Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặt lệnh. Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh. Nguyên tắc đấu giá: Giá chứng khoán đuợc xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán. Tất cả các thành viên tham gia thị truờng đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này. Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động. Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá. Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới đuợc nhập vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại mức giá này chứng khoán giao dịch với khối luợng cao nhất. Nguyên tắc công khai: Tất cả các hoạt động trên thị truờng chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai. Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị truờng. Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty các sự kiện bất thuờng xảy ra đối với công ty nắm giữ cổ phiếu của giám đốc nguời quản lý cổ đông đa số. Các thông tin càng đuợc công bố công khai minh bạch thì càng thu hút đuợc nhà đầu tu tham gia vào thị truờng chứng khoán. Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán đuợc hình thành một cách thống nhất công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó ở hầu hết các nuớc trên thế giới hiện nay mỗi nuớc chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất (tuy nhiên nguời dân mọi miền đất nuớc đều có thể tiếp cận thị truờng thông qua các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cu). Một số nuớc rộng lớn còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại thì đều nối mạng với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt Phát hành chứng khoán ra công chúng Phát hành cổ phiếu ra công chúng là việc công ty cổ phần phát hành toàn bộ hoặc một tỷ lệ lớn vốn cổ phần ra ngoài xã hội để công chúng nắm giữ. Luật chứng khoán nuớc nào cung quy định các tiêu chuẩn phát hành ra công chúng thủ tục hồ sơ xin phép phát hành các quy định về việc sử dụng thông tin trong việc chào bán phân phối chứng khoán báo cáo kết quả đợt phát hành. Điều kiện phát hành thuờng quy định quy mô vốn cổ phần tối thiểu phải có tỷ lệ vốn cổ phần tối thiểu phát hành ra ngoài công ty số công chúng nắm giữ phải đạt mức tối thiểu nhất định lịch sử hoạt động kinh doanh tốt linh vực hoạt động kinh doanh phù hợp kế hoạch phát triển khả thi. Hội đồng quản trị có đủ năng lực chuyên môn và đạo đức... Những điều kiện này nhằm đảm bảo cho chứng khoán phát hành ra phải có chất luợng và với số luợng đủ lớn để tạo ra một thị truờng khả dĩ cho chứng khoán đó. Ngoài ra thông thuờng việc phát hành ra công chúng phải do tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện. Thủ tục xin phép phát hành: các nước thuờng quy định rằng tổ chức bảo lãnh phát hành là người nộp hồ sơ xin phép phát hành cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nuớc vì tổ chức bảo lãnh phát hành là nguời giúp tổ chức phát hành lập hồ so và đồng chịu trách nhiệm pháp lý về hồ sơ đó. Sau một thời gian nhất định Uỷ ban chứng khoán Nhà nước phải trả lời về việc cho phép phát hành hay không. Trong hồ so xin phép phát hành thì bản cáo bạch là tài liệu quan trọng nhất cung cấp mọi thông tin cơ bản về tổ chức phát hành. Bản cáo bạch là bản thông cáo phát hành nó giống như lý lịch tổ chức phát hành phản ánh toàn bộ tình hình tài chính hoạt động kinh doanh tổ chức bộ máy và kế hoạch sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành. Bản cáo bạch là tài liệu chủ yếu để nhà đầu tư tham khảo nghiên cứu truớc khi quyết định mua chứng khoán phát hành. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc chỉ xác nhận rằng bản cáo bạch đã đuợc lập theo đúng thủ tục được tổ chức kiểm toán xác nhận về các bảng báo cáo tài chính. Tổ chức kiểm toán tổ chức phát hành và nguời bảo lãnh phát hành ký vào bản cáo bạch phải chịu trách nhiệm truớc pháp luật về sự chính xác trung thực của các thông tin nêu trong bản cáo bạch. Nhà đầu tư phải tự nghiên cứu tự ra quyết định mua chứng khoán và tự chịu rủi ro đối với chứng khoán này nếu chứng khoán tốt thì sẽ có lãi nếu chứng khoán kém chất luợng thì sẽ bị lỗ. Tuy nhiên trong thời gian đầu Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nhiều nước đang phát triển có bộ phận chuyên trách chịu trách nhiệm kiểm tra tình hình thực tế của tổ chức phát hành khi xét duyệt hồ sơ phát hành. Sau khi đuợc Uỷ ban chứng khoán Nhà nuớc cho phép tổ chức phát hành chỉ đuợc sử dụng thông tin trong bản cáo bạch đã đuợc duyệt để chào bán chứng khoán. Thời hạn chào bán chứng khoán do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc qui định. Công ty cổ phần đại chúng Công ty cổ phần đã phát hành chứng khoán ra công chúng gọi là công ty đại chúng. Nghia vụ của công ty đại chúng Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng tổ chức phát hành trở thành công ty đại chúng (có đăng ký). Công ty đại chúng có nghia vụ phải công khai thông tin về hoạt động của mình theo quy định của pháp luật Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc và Sở Giao dịch chứng khoán nhằm đảm bảo cho nhà đầu tu đuợc thông tin đầy đủ về hoạt động thuờng xuyên cung nhu những sự kiện bất thuờng của công ty. Uu điểm của hình thức tổ chức công ty đại chúng: - Công ty đuợc xã hội biết đến do có tên tuổi xuất hiện công khai trên thị truờng chứng khoán trên báo chí; - Công ty phải báo cáo công khai hoạt động của mình cho công chúng nên chịu sự giám sát của công chúng xã hội; - Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc phải công khai các hoạt động quản lý và điều hành công ty. Ban giám đốc phải chăm lo việc phát triển công ty cải tiến kỹ thuật cải tiến quản lý co cấu hợp lý vốn nếu không thì các giám đốc sẽ bị sa thải; nhu vậy hoạt động công ty đại chúng đã ràng buộc các giám đốc phải tuân thủ pháp luật điều hành công ty theo đúng luật công ty; - Công ty có tiếng tăm ngoài xã hội có uy tín thì khi cần vốn xã hội công ty dễ dàng có thể tiếp tục phát hành cổ phiếu trái phiếu để huy động vốn của xã hội với chi phí phát hành thấp hon lần phát hành truớc; - Nhà nuớc bớt đuợc gánh nặng phải trợ giúp vốn ngân sách cho công ty và nhu vậy Nhà nuớc có thể tập trung sức lực vào nhiệm vụ trọng đại của mình là đầu tu co sở hạ tầng; - Khi phát hành cổ phiếu ra công chúng công ty phải tuân thủ các quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nuớc đặc biệt là các quy định về báo cáo kiểm toán và công bố thông tin; và từ đó các cổ đông có thể giám sát hoạt động của công ty chặt chẽ hon. Nhuợc điểm của hình thức tổ chức công ty đại chúng: - Sau khi hoàn tất phát hành công ty sẽ chịu áp lực giám sát của xã hội chịu áp lực phải duy trì đuợc giá cổ phiếu của mình trên thị truờng chứng khoán để thu hút nhà đầu tu; - Trong hoạt động của mình công ty sẽ phải bỏ ra nguồn nhân lực về tài chính và con nguời để chuẩn bị các báo cáo tài chính thuờng niên báo cáo các sự kiện bất thuờng xảy ra đối với công ty báo cáo khi Uỷ ban Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán) yêu cầu; - Khi phát hành công ty sẽ phải chịu các chi phí đợt phát hành: chi phí thuê hãng kiểm toán độc lập để lập báo cáo kiểm toán hoạt động của công ty chi phí thuê nguời bảo lãnh pháp hành chi phí chuẩn bị hồ so giấy tờ để xin phép phát hành chi phí quảng cáo cho đợt phát hành; - Co cấu cổ đông thuờng xuyên thay đổi có thể đe doạ quyền kiểm soát của các cổ đông lớn. Cổ phiếu phổ thông Khi nói đến hàng hóa trên thị trường chứng khoán người ta thường nghĩ ngay đến cổ Phiếu phổ thông (common stock). Thực tế tại nhiều nước trên thế giới thị trường chứng khoán (the securities market) đã rất quen thuộc đối với mọi người dân. Ví dụ ở Mỹ trung bình cứ 4 người trên 25 tuổi thì có một người sở hữu (own) cổ phiếu phổ thông hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các quỹ tương hỗ (mutual funds) . Vậy bản chất của cổ phiếu phổ thông là gì? Một cổ phiếu phổ thông đại diện cho quyền sở hữu một phần công ty (represent a proportional ownership interest in a corporatịon). Nếu một công ty có 100 cổ phiếu đang lưu hành (outstanding stock) và bạn sở hữu một trong số đó thì có nghĩa là bạn sở hữu 1/100 công ty. Nếu công ty có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành và bạn nắm giữ 1.000 cổ phiếu thì bạn sở hữu 1.000/1.000.000 hay 1/1.000 công ty. Thông thường một công ty có thể thay đổi số lượng cổ phiếu đang lưu hành bằng cách bán các cổ phiếu bổ sung (selling additional shares) hay mua lại và huỷ bỏ một phần các cổ phiếu đã phát hành trước đó (buying back and cancelling some of the shares previously issued). Trong cả hai trường hợp trên tỷ lệ sở hữu của các cổ đông cũ trong công ty đều thay đổi. Ví dụ một công ty phát hành 100 cổ phiếu ra công chúng (issue 100 shares to the public) và bạn mua một trong số này. Như vậy bạn sở hữu 1/100 công ty. Sau đó công ty phát hành thêm 100 cổ phiếu nữa thì tỷ lệ sở hữu của bạn giảm xuống còn 1/200. Nói cách khác tỷ lệ sở hữu của bạn trong công ty đã bị pha loãng (diluted) do việc phát hành cổ phiếu mới (the issuance of new shares). Một ví dụ khác giả sử một công ty có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành và bạn mua một cổ phiếu của công ty. Sau đó công ty mua lại và huỷ bỏ 250.000 cổ phiếu. Vậy tỷ lệ sở hữu của bạn trong công ty từ 1/1.000.000 tăng lên 1/750.000. Lưu ý là cần phân biệt rõ cổ phiếu đang lưu hành cổ phiếu được phép phát hành (authorized stock) và cổ phiếu ngân quỹ (treasury stock). Số lượng cổ phiếu được phép pháp hành như tên của nó đã chỉ ra là số lượng cổ phiếu tối đa mà công ty có thể phát hành. Quy định này đặt ra nhằm tránh tình trạng pha loãng quá mức (excessive dilution) tỷ lệ sở hữu trong công ty của các cổ đông hiện hữu (current shareholders) . Trong thực tiễn có nhiều công ty không phát hành hết số lượng cổ phiếu mà nó được phép . Cổ phiếu đang lưu hành là những cổ phiếu mà công ty đã bán cho các nhà đầu tư và chưa mua lại để huỷ bỏ hay cầm giữ. Số lượng cổ phiếu đang lưu hành được sử dụng để tính toán tỷ lệ sở hữu tỷ lệ nợ trên vốn (debt-to-equity ratio). Vì nhiều lý do khác nhau một công ty có thể mua lại cổ phiếu của chính mình và nắm giữ như các nhà đầu tư bình thường khác. Các cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu ngân qũy và không được tính vào cổ phiếu đang lưu hành. Tại sao có nhiều người đầu tư vào cổ phiếu? Khi mua cổ phiếu các nhà đầu tư cùng hướng tới những mục tiêu giống như những người bỏ tiền ra để mua hoặc khởi sự doanh nghiệp: 1. Họ tìm kiếm cổ tức (dividends) có nghĩa là họ hy vọng doanh nghiệp sẽ tạo ra lợi nhuận (generate profits) để có thể phân phối (distribute) cho các chủ sở hữu; 2. Họ tìm kiếm lãi vốn (capital gains) có nghĩa là họ hy vọng doanh nghiệp sẽ tăng trưởng về giá trị (grow in value) và do đó họ có thể bán phần sở hữu của mình với mức giá cao hơn mức giá mà họ đã mua; 3. Họ tìm kiếm những lợi ích về thuế (tax benefits) mà luật thuế (tax code) dành cho các chủ sở hữu doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư khác nhau thì tầm quan trọng của mỗi yếu tố trên cũng khác nhau bởi vì họ không có cùng một mục đích đầu tư (investment objective). Ví dụ những người về hưu vốn phải sống dựa chủ yếu vào thu nhập từ các khoản đầu tư sẽ đề cao vai trò của cổ tức trong khi một số người khác lại chú ý hơn đến khả năng thu lãi vốn. Giới thiệu về cổ phiếu I. Khái niệm Cổ phiếu: Khi một công ty gọi vốn số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình. Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử ứng cử..v.v. II. Tác dụng của việc phát hành Cổ phiếu: Đối với Công ty phát hành: Việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty vay nợ từ các tổ chức tín dụng ...thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp. Đối với nhà đầu tư cổ phiếu: Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ phiếu được công ty phát hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao và đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn. Thông thường khả năng sinh lợi thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường Giới thiệu các hệ số tài chính 1. Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Hệ số tổng lợi nhuận = (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua)/Doanh số bán Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào. 2. Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/Doanh thu Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. 3. Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó. Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu. Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn nhân lực..) tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn. 4. Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông. ROE = Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác. 5. Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản. ROI = (Thu nhập ròng/Doanh số bán) * (Doanh số bán/Tổng tài sản). Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả thì thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao. 6. Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau: P/E = P/EPS Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu Phương thức giao dịch thoả thuận tại TTGDCKHN Sàn giao dịch thứ cấp của Trung tâm GDCK Hà Nội đã bắt đầu hoạt động từ giữa tháng 7/2005. Trong thời gian đầu Trung tâm GDCK Hà Nội áp dụng phương thức giao dịch thoả thuận. Một số nội dung cơ bản về hoạt động giao dịch hiện nay tại sàn giao dịch thứ cấp của Trung tâm GDCK Hà Nội bao gồm: Các qui định về giao dịch - Thời gian giao dịch: Từ 9h00-11h00 vào tất cả các ngày làm việc trong tuần (trừ các ngày nghỉ theo qui định tại Bộ Luật Lao động). - Giá tham chiếu: là bình quân gia quyền của các mức giá giao dịch của ngày có giao dịch gần nhất. - Biên độ giao động giá: + Đối với cổ phiếu: +/- 10% + Đối với trái phiếu: không qui định biên độ - Đơn vị yết giá: 100 đồng - Đơn vị giao dịch: không qui định - Khối lượng giao dịch tối thiểu: + Đối với cổ phiếu: 5.000 cổ phiếu + Đối với trái phiếu: 100 triệu đồng tính theo mệnh giá - Hình thức thanh toán: + Các lệnh có khối lượng nhỏ hơn 100.000 cổ phiếu hoặc nhỏ hơn 10 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu: hình thức thanh toán đa phương với chu kỳ T+3 + Các lệnh có khối lượng lớn hơn hoặc bằng 100.000 cổ phiếu hoặc 10 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu thì được lựa chọn 1 trong 3 hình thức sau: * Đa phương với chu kỳ thanh toán T+3 * Song phương với chu kỳ thanh toán T+2 * Trực tiếp với chu kỳ thanh toán từ T+1 đến T+3 Trình tự giao dịch thoả thuận - Nguyên tắc giao dịch: Các giao dịch phải được thực hiện thông qua công ty chứng khoán thành viên của Trung tâm GDCK Hà Nội. - Trước tiên để thực hiện giao dịch nhà đầu tư phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại một công ty chứng khoán là thành viên của Trung tâm GDCK Hà Nội. Nhà đầu tư sẽ được công ty chứng khoán hướng dẫn đầy đủ các thủ tục để mở tài khoản giao dịch chứng khoán. Sau khi đã tìm hiểu kỹ về các loại chứng khoán đăng ký giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội nhà đầu tư có thể bắt đầu đưa ra các quyết định đầu tư của mình. - Khi đặt lệnh mua bán chứng khoán nhà đầu tư phải đảm bảo đủ tỉ lệ ký quỹ trên tài khoản. Cụ thể là khi đặt lệnh bán thì nhà đầu tư phải có đủ số chứng khoán trong tài khoản còn khi đặt lệnh mua thì nhà đầu tư phải có đủ số tiền kí quỹ theo thoả thuận với công ty chứng khoán. + Trường hợp đã xác định được đối tác giao dịch: Nếu nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và đã hoàn tất thoả thuận giao dịch thì thông báo cho công ty chứng khoán về thoả thuận này công ty chứng khoán sẽ thực hiện nhập lệnh giao dịch vào hệ thống của Trung tâm GDCK Hà Nội. + Trường hợp chưa xác định được đối tác giao dịch: * Khi có nhu cầu giao dịch nhà đầu tư sẽ đặt lệnh mua/lệnh bán tại công ty chứng khoán. * Căn cứ vào lệnh của nhà đầu tư công ty chsưng khoán sẽ nhập lệnh vào hệ thống giao dịch tại Trung tâm GDCK Hà Nội ngay lập tức các lệnh đó sẽ được hiển thị trên sổ lệnh của thị trường. * Căn cứ vào thông tin trên sổ lệnh các công ty chứng khoán sẽ liên lạc với nhau để giúp nhà đầu tư tìm kiếm và thoả thuận với các đối tác giao dịch về mức giá và khối lượng giao dịch. Khi đạt được thoả thuận công ty chứng khoán sẽ thực hiện lệnh giao dịch cho nhà đầu tư. * Hệ thống giao dịch của Trung tâm GDCK Hà Nội sẽ nhận và xác nhận các lệnh giao dịch do công ty chứng khoán nhập vào và sẽ đưa ra kết quả giao dịch tổng hợp của toàn thị trường. * Kết quả giao dịch thỏa thuận sẽ được hiển thị ngay trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hình thông tin của CTCK Phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCKHN Được sự đồng ý của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước ngày 2/11/2005 Trung tâm GDCK Hà Nội chính thức đưa phương thức giao dịch báo giá vào hoạt động. Những nội dung chính trong cơ chế hoạt động của phương thức giao dịch báo giá như sau: Các qui định về giao dịch: * Thời gian giao dịch: Từ 9h00-11h00 vào tất cả các làm việc trong tuần (trừ các ngày nghỉ theo qui định tại Bộ Luật Lao động). * Hình thức thanh toán - Giao dịch báo giá: Tất cả các giao dịch báo giá (gồm cả giao dịch cổ phiếu và giao dịch trái phiếu) được thanh toán theo hình thức thanh toán đa phương (T+3). * Đơn vị yết giá - Giao dịch báo giá: + Đối với cổ phiếu:100 đồng. + Đối với trái phiếu: không quy định. - Giao dịch thỏa thuận: không quy định. * Đơn vị giao dịch - Giao dịch báo giá: 100 cổ phiếu hoặc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tính theo mệnh giá trái phiếu. * Giá tham chiếu: Giá tham chiếu của cổ phiếu là bình quân gia quyền các giá thực hiện qua phương thức giao dịch báo giá của ngày có giao dịch gần nhất. * Biên độ dao động giá - Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đối với cổ phiếu là ±10%. - Không áp dụng biên độ dao động giá đối với các giao dịch trái phiếu. * Hiệu lực của lệnh: trong phiên giao dịch lệnh giới hạn được nhập vào hệ thống giao dịch có hiệu lực cho đến hết phiên hoặc cho đến khi lệnh bị huỷ trên hệ thống. * Loại lệnh giao dịch: Lệnh giao dịch báo giá là lệnh giới hạn. * Nguyên tắc thực hiện lệnh giao dịch báo giá - Các lệnh có mức giá tốt nhất được ưu tiên thực hiện trước. - Nếu có nhiều lệnh cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước. - Nếu lệnh mua và lệnh bán cùng thoả mãn nhau về giá thì mức giá thực hiện sẽ là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước. - Lệnh giao dịch có thể được thực hiện toàn bộ hoặc một phần theo bội số của đơn vị giao dịch. * Sửa hủy lệnh: Nhà đầu tư được phép huỷ lệnh hoặc thay đổi mức giá đối với các lệnh chưa được khớp hoặc phần còn lại của lệnh đã khớp một phần. Các bước tiến hành giao dịch báo giá: - Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh (mua/bán) tại các công ty chứng khoán đại diện giao dịch của công ty chứng khoán sẽ nhập các lệnh của khách hàng vào hệ thống giao dịch tại Trung tâm GDCK Hà Nội. Nếu nhà đầu tư muốn thực hiện lệnh theo phương thức thoả thuận hoặc muốn thực hiện toàn bộ khối lượng thì phải ghi rõ những yêu cầu này trên phiếu lệnh công ty chứng khoán sẽ thực hiện những lệnh này theo phương thức thoả thuận. Nếu phiếu lệnh không có các yêu cầu trên thì đại diện giao dịch của công ty chứng khoán sẽ nhập lệnh đó vào hệ thống giao dịch báo giá. - Các lệnh đặt này được hiển thị trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hình thông tin của công ty chứng khoán. - Nhà đầu tư theo dõi các lệnh (mua/bán) thông qua màn hình thông tin tại công ty chứng khoán và lựa chọn các lệnh phù hợp để đặt lệnh đối ứng. - Các lệnh nhập vào hệ thống sẽ được tự động khớp ngay với các lệnh đối ứng có mức giá thoả mãn tốt nhất đã chờ sẵn trong hệ thống. Tức là nếu thoả mãn về giá thì các lệnh mua có mức giá cao nhất sẽ được khớp với các lệnh bán có mức giá thấp nhất. Mức giá thực hiện được xác định là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước. - Nếu ở cùng một mức giá mà có nhiều lệnh mua/lệnh bán thì lệnh nào nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước. - Các lệnh có thể được thực hiện một phần hoặc toàn bộ (nếu các lệnh đối ứng đáp ứng được toàn bộ khối lượng). Các lệnh chưa được thực hiện hoặc mới thực hiện một phần sẽ được lưu lại trên hệ thống để chờ thực hiện với các lệnh mới. - Kết quả giao dịch sẽ được hiển thị trực tuyến trên màn hình thông tin của các công ty chứng khoán. Kết thúc phiên giao dịch TTGDCK Hà Nội sẽ xác nhận kết quả giao dịch với công ty chứng khoán thành viên và công ty chứng khoán thành viên thông báo cho khách hàng. Điều kiện để thị trường chứng khoán hoạt động tốt? Thị trường chứng khoán được xem là hoạt động tốt và hiệu quả nếu như việc mua bán chứng khoán trên thị trường diễn ra thuận lợi cung cấp cho nhà đầu tư một cơ chế giao dịch thuận tiện an toàn công khai công bằng và minh bạch bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư. Hay nói khác thị trường chứng khoán được xem là hoạt động tốt nếu như nó tạo ra tính thanh khoản cao cho các chứng khoán giao dịch cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà đầu tư và các đối tượng tham gia thị trường qua đó hình thành nên giá chứng khoán hợp lý tạo được niềm tin của công chúng vào thị trường chứng khoán. Vì vậy để có thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả thì phải có một số điều kiện căn bản sau: Về yếu tỗ vĩ mô: Sự ổn định môi trường chính trị và kinh tế vĩ mô nhằm khuyến khích đầu tư và tiết kiệm của công chúng; mức độ lạm phát được kiềm chế vừa đủ để duy trì nền kinh tế phát triển; mức thâm hụt ngân sách trong giới hạn an toàn các chiến lược phát triển kinh tế xoá đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm được thực hiện có hiệu quả. Về yếu tố vi mô đó là: Khung pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ với hệ thống các văn bản pháp quy đầy đủ rõ ràng điều chỉnh các mặt hoạt động của thị trường chứng khoán giúp cho thị trường hoạt động an toàn bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia thị trường. Mạng lưới các trung gian hoạt động trên thị trường chứng khoán như các công ty chứng khoán công ty quản lý quỹ đầu tư… vv đóng vai trò cầu nối giữa các nhà đầu tư thực hiện nghiệp vụ môi giới mua bán chứng khoán trên thị trường tập trung cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác cho các nhà đầu tư như cho vay cung cấp thông tin và các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán cho nhà đầu tư như tư vấn đầu tư chứng khoán tham gia bảo lãnh phát hành và tư vấn cho các công ty trong việc niêm yết. Cung cấp một cơ chế giao dịch hiệu quả thông qua tổ chức vận hành của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Sở Giao dịch Chứng khoán gồm hệ thống giao dịch giám sát công bố thông tin hệ thống lưu ký thanh toán bù trừ…vv. Sự vận hành của các hệ thống này có những ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của thị trường thông qua năng lực xử lý nhanh chính xác các giao dịch trên thị trường giúp tăng tốc độ luân chuyển vốn trên thị trường. Các tổ chức hỗ trợ phát triển thị trường như các định chế trung gian khác là tổ chức định mức tín nhiệm tổ chức kiểm toán tư vấn tổ chức lưu ký ngân hàng thanh toán…vv. Ngoài ra thị trường cần đến sự tham gia của các nhà đầu tư chuyên nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường can thiệp thị trường vào những thời điểm mất cân đối quan hệ cung cầu. ----------------lí thuyết ở trên phần nào cho ta hiểu thêm vể chứng khoán và cổ phiếu----------------- đây là nhung tài liêu mình sưu tầm được